articlewriting1
Thủ tướng Abe đàm đạo những chủ trương kinh tế tài chính của ông trong một bài phát biểu tại Luân Đôn vào tháng 6 năm 2013 .

Abenomics (アベノミクス, Abenomikusu?) đề cập đến các chính sách kinh tế do Thủ tướng Abe Shinzō đề xướng bắt đầu từ thời điểm tổng tuyển cử Nhật Bản, 2012 và sau đó Abe Shinzō được bầu làm thủ tướng Nhật Bản nhiệm kỳ thứ hai. Abenomics dựa trên ‘ba mũi tên’ là nới lỏng định lượng, kích thích tài khóa, cải cách cơ cấu.[1] The Economist miêu tả chương trình giống như một ‘hỗn hợp của tăng phát, chi tiêu chính phủ và một chiến lược tăng trưởng được thiết kế để bật dậy nền kinh tế thoát khỏi tình trạng ngủ đông mà đã từng bị cảm cúm trong hơn hai thập kỷ’.[2]

Thuật ngữ Abenomics là từ kết hợp của Abeeconomics, kế thừa các từ mới chính trị trước đó dành cho các chính sách kinh tế liên quan đến các nhà lãnh đạo cụ thể như Reaganomics, Clintonomics, Rogernomics.

Điều kiện kinh tế tài chính Nhật Bản trước Abenomics[sửa|sửa mã nguồn]

Chính phủ Nhật Bản đã tăng định mức thuế tiêu thụ từ 3% đến 5% vào năm 1997, điều này dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế và giảm phát nền kinh tế. Chính phủ tăng thuế tiêu thụ năm 1997 nhằm mục đích cân đối ngân sách, sau đó nguồn thu chính phủ giảm 4,5 nghìn tỷ JP¥ vì sức tiêu thụ suy giảm. Nhật Bản ghi nhận tốc độ tăng trưởng GDP 3% năm 1996 nhưng sau khi tăng thuế thì nền kinh tế chìm trong suy thoái.[3] Tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa dưới mức 0 trong hầu hết 5 năm sau khi tăng thuế.[4][5] Thu nhập bình quân hàng năm của Nhật Bản tăng trong giai đoạn 1992-1997, nhưng thu nhập bình quân bắt đầu giảm sau khi tăng thuế tiêu thụ có hiệu lực vào năm 1997. Sau năm 1997, thu nhập bình quân giảm nhanh hơn GDP danh nghĩa.

Năm 2012, Quốc hội Nhật Bản dưới thời thủ tướng Nhật Bản nhiệm kỳ trước là Noda Yoshihiko đã trải qua một dự luật tăng thuế tiêu thụ lên mức 8 % năm năm trước và 10 % năm năm ngoái [ 6 ] để cân đối ngân sách vương quốc ; việc tăng thuế tiêu thụ này dự kiến sẽ liên tục ngăn cản tiêu dùng. [ 7 ]

Điều kiện kinh tế tài chính quốc tế trước Abenomics[sửa|sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ đại suy thoái và khủng hoảng toàn thế giới, Nhật Bản đã bị tổn thất 0,7 % GDP trong thực tiễn trong năm 2008 và sau đó bị tổn thất nghiêm trọng 5,2 % GDP trong năm 2009. Ngược lại, tài liệu về tăng trưởng GDP thực tiễn của quốc tế tăng 3,1 % trong năm 2008 và sau đó tổn thất 0,7 % trong năm 2009. [ 8 ] Xuất khẩu từ Nhật Bản giảm từ 746,5 tỷ US $ năm 2008 xuống còn 545,3 tỷ US $ năm 2009, mức giảm 27 %. [ 9 ] GDP danh nghĩa tại Nhật Bản năm 2013 ở cùng mức năm 1991 trong khi chỉ số đầu tư và chứng khoán Nikkei 225 đạt đỉnh lần thứ ba. [ 2 ]

Nền tảng ý thức hệ của Abenomics[sửa|sửa mã nguồn]

Chính sách kinh tế của Abe Shinzō cũng liên quan đến sự trỗi dậy của Trung Quốc giống như một cường quốc kinh tế và chính trị. Những người ủng hộ Abe Shinzō bị thu hút bởi sự tương đồng rõ ràng giữa Abenomics và chương trình phú quốc cường binh thời kỳ Minh Trị. Ngoài việc thêm một đối trọng mạnh mẽ hơn đối với Trung Quốc ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, việc tăng cường kinh tế Nhật Bản cũng là một dụng ý thúc đẩy Nhật Bản không còn phụ thuộc vào Hoa Kỳ trong vấn đề quốc phòng.[2]

Triển vọng kinh tế tại Nhật Bản 1994-1999 [10]
Năm GDP danh nghĩa (tỷ JP¥) Tăng trưởng GDP danh nghĩa (%) Người thất nghiệp (nghìn) Dân số hoạt động kinh tế (nghìn) Thất nghiệp (%)
1994 486.526,3 1,19 1.920 66.450 2,88
1995 493.271,7 1,38 2.100 66.660 3,15
1996 502.608,9 1,89 2.250 67.110 3,35
1997 512.248,9 1,91 2.300 67.870 3,38
1998 502.972,8 -1,81 2.790 67.930 4,10
1999 495.226,9 -1,54 3.170 67.790 4,67

Abenomics gồm có những kế hoạch chủ trương tiền tệ, chủ trương tài khóa và tăng trưởng kinh tế tài chính để khuyến khích góp vốn đầu tư tư nhân. Các chủ trương đơn cử gồm có lạm phát kinh tế tiềm năng đạt mức 2 % hàng năm, kiểm soát và điều chỉnh lại sự nâng giá quá mức của yên Nhật, thiết lập lãi suất vay âm, triệt để nới lỏng định lượng, lan rộng ra tiêu tốn cơ quan chính phủ, nhiệm vụ thị trường mở thiết kế xây dựng trái phiếu cơ quan chính phủ bởi ngân hàng nhà nước Nhật Bản, sửa đổi lại luật đạo ngân hàng nhà nước Nhật Bản. [ 15 ] Chi tiêu tài khóa sẽ tăng 2 % GDP, hoàn toàn có thể làm tăng thâm hụt tới 11,5 % GDP so với năm 2013. [ 16 ]

Hai trong ‘ba mũi tên’ đã được thực hiện trong tuần đầu tiên của chính phủ Abe Shinzō. Abe Shinzō nhanh chóng công bố dự luật kích thích tài khóa 10,3 nghìn tỷ JP¥ và bổ nhiệm Kuroda Haruhiko làm thống đốc ngân hàng Nhật Bản với nhiệm vụ tạo ra tỷ lệ lạm phát mục tiêu 2% thông qua nới lỏng định lượng. Nhưng phó thống đốc ngân hàng Iwata Kikuo đã đề nghị rằng ngân hàng Nhật Bản không hoàn toàn nhắm đến mục tiêu định giá 2% trong hai năm, Iwata Kikuo ngụ ý rằng ngân hàng Nhật Bản sẽ không nới lỏng lại chính sách tiền tệ của mình nhằm mục đích ngăn chặn sự đình trệ kinh tế ngay sau khi tăng thuế tiêu thụ vào tháng 4 năm 2014.

Cải cách cơ cấu tổ chức đã mất nhiều thời hạn hơn để triển khai, dù cho Abe Shinzō đã thực thi một số ít hành động sớm trên mặt trận này như thôi thúc sự tham gia của Nhật Bản vào Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương. [ 2 ]Tuyển cử Tham Nghị viện Nhật Bản 2013 trao cho Abe Shinzō quyền trấn áp trọn vẹn QH Nhật Bản, nhưng cơ quan chính phủ Nhật Bản đã thể hiện một số ít chia rẽ nội bộ so với những cải cách cơ cấu tổ chức đơn cử. Một số thành viên nội những ủng hộ thuế doanh nghiệp thấp hơn, những người khác cẩn trọng những chống đối chính trị tiềm năng do tại cắt giảm thuế so với những công ty lớn trong khi tăng thuế với người tiêu dùng. Luật lao động Nhật Bản và trấn áp sản xuất gạo cũng trở thành những yếu tố gây tranh cãi trong cơ quan chính phủ của Abe Shinzō. [ 17 ]

Nới lỏng định lượng[sửa|sửa mã nguồn]

Ngân hàng Nhật Bản công bố chương trình nới lỏng định lượng vào ngày 4 tháng 4 năm 2013, theo đó ngân hàng nhà nước Nhật Bản sẽ mua từ 60 nghìn tỷ JP ¥ đến 70 nghìn tỷ JP ¥ trái phiếu mỗi năm. Vào ngày 31 tháng 10 năm năm trước, ngân hàng nhà nước Nhật Bản công bố lan rộng ra chương trình mua trái phiếu, tính đến hiện tại họ mua 80 nghìn tỷ JP ¥ trái phiếu mỗi năm .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.